EXTENDMAX – 11/05/2026 – Recently, the Ministry of Science and Technology (MOST) issued a draft regulation on the List of Medium-Risk and High-Risk Products and Goods under the management responsibility of MOST for public consultation. This draft serves as a consolidated version covering household electrical appliances, steel products, petroleum products, telecommunications equipment, and information technology products classified according to risk levels, meaning they are subject to state quality inspection, conformity certification, and conformity declaration requirements.
List of Medium-Risk and High-Risk Products of the MST Subject to State Quality Inspection, Conformity Certification, and Conformity Declaration.
Once officially promulgated, this draft is expected to have a broad and profound impact on manufacturers, importers, and related organizations and individuals, as it introduces several changes that, while not entirely new, could significantly affect manufacturing, trade, and import-export activities.
Together with Circular No. 14/2026/TT-BKHCN, this draft is particularly impactful in terms of compliance costs and the time required for conformity certification and conformity declaration procedures for risk-classified products and goods.
Below are some of the most significant and influential changes from the analytical perspective of legal expert Tran Thanh Phuong – CEO of ExtendMax:
Core Changes in the Product and Goods List:
1. Products and goods (formerly classified as Group 2 products and goods) are now categorized into high-risk and medium-risk groups. Most products listed in Appendix I of Circular 29/2025/TT-BKHCN have been reclassified as high-risk goods. This is not merely a change in terminology, but a fundamental change in import procedures.
Under Decree 37/2026/ND-CP, high-risk products are subject to “pre-market inspection” and must obtain a Certificate of Conformity before customs clearance. In other words, if an enterprise imports high-risk products without obtaining conformity certification, the goods must be taken to a storage location in accordance with Clause 2, Article 83 of Decree No. 37/2026/ND-CP untill conformity certificion process is completed.
Meanwhile, under Decree 74/2018/ND-CP, conformity certification could be completed after customs clearance under the post-market inspection mechanism.
2. The scope of regulation also includes products integrated into other goods:
| Clause 2, Article 1 of the Circular No. 29/2025/TT-BKHCN | Article 1 of the New Draft Circular |
| This Circular applies only to products and goods with HS codes and product descriptions specified in the List of Group 2 Products and Goods. | This Circular applies to products and goods (whether standalone or integrated into other products or goods) with HS codes and product descriptions specified in the List of Medium-Risk and High-Risk Products and Goods. |
The question raised here is whether this “integration” refers to:
- physical integration (where one product is physically embedded within another product), or
- functional integration (where one product incorporates the functions or features of another product).
Each interpretation could lead to different legal consequences and varying levels of impact.
3. Clause 2, Article 5 stipulates:
“Products and goods listed under the Medium-Risk and High-Risk Products and Goods List that integrate other products and goods also listed under the Medium-Risk and High-Risk Products and Goods List must carry out conformity certification and conformity declaration in full compliance with the corresponding technical regulations applicable to both the primary product or goods and the integrated product or goods.”
This issue also raises the question of whether a medium-risk product that integrates features or functions associated with a high-risk product category would fundamentally change its nature and therefore be classified as a high-risk product itself. It also remains unclear whether the applicable state management mechanism should follow the high-risk or medium-risk regime — namely, whether the product would be subject to mandatory certification or permitted to undergo self-assessment/self-declaration.
Likewise, if an ordinary product (low-risk) incorporates features or functions of a product classified as high-risk, what meaningful distinction would remain if the regulatory framework determines the level of risk solely based on the existence of certain “features” or “functions”?
4. Most ICT products previously listed under Appendix I of Circular No. 29/2025/TT-BKHCN, which were formerly eligible to apply Certification Method 1 and Method 7, are now shifted to Certification Method 3 (as regulated under Circular No. 14/2026/TT-BKHCN) and Method 7.
This means that conformity certification activities will now require the assessment and surveillance of the manufacturing process (factory audit) or the application of batch-by-batch certification methods. Although the notes at the end of Appendix I and Appendix II provide exemptions from manufacturing process assessment, surveillance, and surveillance sampling for products manufactured on production lines certified under applicable quality management systems (such as ISO 9001, HACCP, GMP, or equivalent standards) within the relevant certification scope and remaining valid for at least six months, the “minimum remaining validity of six months” requirement may still create practical difficulties for businesses. In practice, many factories only renew their quality management system certificates shortly before their expiration dates in accordance with normal operational practices.
Original download link for the draft Circular from the Ministry of Science and Technology website: https://mst.gov.vn/van-ban-phap-luat/du-thao/2445.htm
Please refer to the full draft text below:
| CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| Số: /2026/TT-BKHCN | Hà Nội, ngày tháng năm 2026 |
Ban hành Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Khoa học và Công nghệ
Căn cứ Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 05/2007/QH12 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 78/2025/QH15;
Căn cứ Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật số 68/2006/QH11 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 35/2018/QH14 và Luật số 70/2025/QH15;
Căn cứ Luật Viễn thông ngày 24 tháng 11 năm 2023;
Căn cứ Luật Tần số vô tuyến điện ngày 23 tháng 11 năm 2009; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện ngày 09 tháng 11 năm 2022;
Căn cứ Luật Công nghệ thông tin ngày 29 tháng 6 năm 2006;
Căn cứ Nghị định số 37/2026/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 2026 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa;
Căn cứ Nghị định số 22/2026/NĐ-CP ngày 16 tháng 01 năm 2026 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật;
Căn cứ Nghị định số 55/2025/NĐ-CP ngày 02 tháng 3 năm 2025 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Khoa học và Công nghệ;
Theo đề nghị của Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia;
Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Thông tư ban hành Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Khoa học và Công nghệ.
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Thông tư này quy định Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Khoa học và Công nghệ kèm theo mã số HS phù hợp với Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam và yêu cầu quản lý chất lượng tương ứng.
Thông tư này áp dụng đối với sản phẩm, hàng hóa (độc lập hoặc được tích hợp trong sản phẩm, hàng hóa khác) có mã số HS và mô tả sản phẩm, hàng hóa quy định tại Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, có mức độ rủi ro cao.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
Thông tư này áp dụng đối với:
1. Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh sản phẩm, hàng hóa thuộc Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao trên lãnh thổ Việt Nam.
2. Tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa thuộc Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao trên lãnh thổ Việt Nam.
Điều 3. Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao
Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao và biện pháp quản lý chất lượng tương ứng được quy định như sau:
1. Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao được quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư này.
2. Sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao phải được tổ chức, cá nhân tự công bố tiêu chuẩn áp dụng và do tổ chức chứng nhận được chỉ định thực hiện chứng nhận phù hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.
Điều 4. Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình
Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình và biện pháp quản lý chất lượng tương ứng được quy định như sau:
1. Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình được quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư này.
2. Sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình phải được tổ chức, cá nhân tự công bố tiêu chuẩn áp dụng; phải tự đánh giá hoặc do tổ chức chứng nhận được công nhận thực hiện chứng nhận phù hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.
Điều 5. Nguyên tắc quản lý sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao
1. Việc quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa thuộc Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao được thực hiện theo quy định của Bộ Khoa học và Công nghệ về chứng nhận hợp quy, công bố hợp quy, kiểm tra chất lượng đối với sản phẩm, hàng hóa và các quy chuẩn kỹ thuật tương ứng.
2. Sản phẩm, hàng hóa thuộc Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao có tích hợp sản phẩm, hàng hóa khác thuộc Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao phải thực hiện chứng nhận hợp quy, công bố hợp quy đầy đủ các quy chuẩn kỹ thuật tương ứng áp dụng cho sản phẩm, hàng hóa đó và sản phẩm, hàng hóa được tích hợp.
3. Sản phẩm, hàng hóa thuộc Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao thuộc đối tượng áp dụng của hai hay nhiều quy chuẩn kỹ thuật thì phải thực hiện chứng nhận hợp quy, công bố hợp quy theo quy định của các quy chuẩn kỹ thuật đó.
4. Trường hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đã ban hành trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành có quy định khác về biện pháp quản lý chất lượng đối với sản phẩm, hàng hóa thuộc Danh mục ban hành kèm theo Thông tư này thì thực hiện theo quy định tại Thông tư này.
5. Trường hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia được ban hành mới, sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế quy chuẩn kỹ thuật quốc gia quy định tại Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao; hoặc quy chuẩn kỹ thuật quốc gia được ban hành mới để áp dụng bổ sung đối với sản phẩm, hàng hóa thuộc Danh mục ban hành kèm theo Thông tư này thì áp dụng theo quy định tại văn bản ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đó kể từ thời điểm quy chuẩn kỹ thuật quốc gia có hiệu lực thi hành.
6. Sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử gồm vật liệu phóng xạ, thiết bị hạt nhân và thiết bị bức xạ thuộc đối tượng quản lý theo pháp luật về năng lượng nguyên tử được quản lý theo quy định của pháp luật về năng lượng nguyên tử.
Điều 6. Hiệu lực thi hành
1. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
2. Các văn bản sau đây hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành:
a) Thông tư số 29/2025/TT-BKHCN ngày 13 tháng 11 năm 2025 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định Danh mục sản phẩm, hàng hóa có khả năng gây mất an toàn lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Khoa học và Công nghệ.
b) Quyết định số 2711/QĐ-BKHCN ngày 30 tháng 12 năm 2022 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ về việc công bố sản phẩm, hàng hóa nhóm 2 thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ; Quyết định số 366/QĐ-BKHCN ngày 14 tháng 3 năm 2023 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ về việc công bố bổ sung sản phẩm, hàng hóa nhóm 2 thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Khoa học và Công nghệ; Quyết định số 367/QĐ-BKHCN ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ về việc sửa đổi, bổ sung nhóm sản phẩm chiếu sáng bằng công nghệ LED tại Quyết định số 2711/QĐ-BKHCN ngày 30 tháng 12 năm 2022.
Điều 7. Điều khoản chuyển tiếp
1. Giấy chứng nhận hợp quy, Thông báo tiếp nhận bản công bố hợp quy đã được cấp cho sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi điều chỉnh Thông tư này đến trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành vẫn còn giá trị sử dụng cho đến hết thời hạn ghi trong Giấy chứng nhận hợp quy, Thông báo tiếp nhận bản công bố hợp quy.
2. Các hồ sơ đăng ký chứng nhận hợp quy đã được tiếp nhận trước ngày 01 tháng 7 năm 2026 nhưng chưa được giải quyết xong thì tiếp tục được thực hiện theo quy định của pháp luật tại thời điểm tiếp nhận hồ sơ.
3. Các tổ chức đánh giá sự phù hợp đã được chỉ định thực hiện đánh giá sự phù hợp đối với sản phẩm, hàng hóa nhóm 2 thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Khoa học và Công nghệ và quyết định chỉ định còn hiệu lực thì được tiếp tục thực hiện đánh giá sự phù hợp đối với sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao theo quy định tại Thông tư này cho đến hết thời hạn hiệu lực của quyết định chỉ định.
Điều 8. Tổ chức thực hiện
1. Chánh Văn phòng, Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia, Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này.
2. Căn cứ tình hình thực tế và yêu cầu quản lý, bao gồm trường hợp phát sinh sản phẩm, công nghệ mới hoặc cảnh báo trong nước, quốc tế về rủi ro sản phẩm, hàng hóa, Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan rà soát, đề xuất cập nhật, bổ sung Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao thuộc phạm vi quản lý.
3. Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ rà soát các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng với sản phẩm, hàng hóa thuộc Danh mục ban hành kèm theo Thông tư này; đề xuất ban hành mới, sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế quy chuẩn kỹ thuật quốc gia theo lộ trình phù hợp, bảo đảm yêu cầu quản lý chất lượng tương ứng với mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa.
4. Sở Khoa học và Công nghệ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm tổ chức tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh trên địa bàn thực hiện Thông tư này; phối hợp với các cơ quan có liên quan trong công tác quản lý, kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa thuộc Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao theo quy định của pháp luật; tổng hợp khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện và kịp thời báo cáo, kiến nghị Bộ Khoa học và Công nghệ để xem xét, hướng dẫn hoặc sửa đổi, bổ sung Danh mục cho phù hợp với thực tiễn quản lý.
5. Trong quá trình áp dụng Thông tư này, tổ chức, cá nhân kịp thời phản ánh khó khăn, vướng mắc về Bộ Khoa học và Công nghệ để được xem xét, hướng dẫn./.
| Nơi nhận: | BỘ TRƯỞNG
Vũ Hải Quân
|
| - Văn phòng Tổng bí thư; - Văn phòng Chủ tịch nước; - Văn phòng Quốc hội; - Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ (để b/c); - Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; - UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW; - Sở KH&CN các tỉnh, thành phố trực thuộc TW; - Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý XLVPHC - Bộ Tư pháp; - Cục KSTTHC - Văn phòng Chính phủ; - Cổng thông tin điện tử Chính phủ; Công báo; - Bộ KH&CN: Bộ trưởng và các Thứ trưởng, các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ, Cổng Thông tin điện tử Bộ; - Lưu: VT, TTTK. |
Phụ lục I
DANH MỤC SẢN PHẨM, HÀNG HÓA CÓ MỨC ĐỘ RỦI RO CAO
THUỘC TRÁCH NHIỆM QUẢN LÝ CỦA BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
(Ban hành kèm theo Thông tư số /2026/TT-BKHCN ngày tháng năm 2026 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ)
Ghi chú:
- Sản phẩm, hàng hóa có chức năng phát xạ vô tuyến điện phải tuân thủ các quy hoạch và phân bổ tần số vô tuyến điện của Việt Nam, các điều kiện kỹ thuật và khai thác tương ứng, cũng như các quy định pháp luật hiện hành về tần số vô tuyến điện.
- Các tổ chức, doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu, phân phối, sử dụng sản phẩm, hàng hóa phải cam kết thực hiện đúng quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tần số vô tuyến điện.
- Việc thực hiện chứng nhận hợp quy và công bố hợp quy sản phẩm, hàng hóa nêu tại Phụ lục I đối với một số trường hợp cụ thể quy định như sau:
(1) Đối với quy chuẩn kỹ thuật này, sản phẩm, hàng hóa không phải thực hiện chứng nhận hợp quy mà chỉ thực hiện công bố hợp quy.
(2) Loại sản phẩm, hàng hóa này không áp dụng đối với thiết bị thông tin phòng nổ.
(3) Thiết bị vô tuyến điện cự ly ngắn tại mục này không bao gồm thiết bị chỉ thu vô tuyến; thiết bị truyền dữ liệu băng rộng hoạt động trong băng tần 2,4 GHz có công suất bức xạ đẳng hướng tương đương (EIRP) nhỏ hơn 60 mW; thiết bị truy nhập vô tuyến băng tần 5 GHz có công suất bức xạ đẳng hướng tương đương (EIRP) nhỏ hơn 60 mW; thiết bị truyền dữ liệu băng rộng, thiết bị truy nhập vô tuyến độc lập hoạt động trên băng tần 6 GHz (5,925 GHz đến 6,425 GHz); thiết bị Bluetooth và Zigbee có công suất bức xạ đẳng hướng tương đương (EIRP) nhỏ hơn 60mW.
(4) Đối với QCVN 117:2023/BTTTT: không áp dụng các yêu cầu Độ nhạy bức xạ tổng cộng của máy thu (TRS) tại điều 2.2.12, mục B.2.2.18 và Công suất bức xạ tổng cộng (TRP) tại điều 2.2.13, mục B.2.2.19 của quy chuẩn kỹ thuật; không áp dụng các yêu cầu kỹ thuật đối với công nghệ GSM (2G và 2,5G).
(5) Đối với QCVN 101:2020/BTTTT: chỉ bắt buộc công bố hợp quy yêu cầu về đặc tính an toàn quy định tại điều 2.6 của quy chuẩn kỹ thuật này.
(6) Đối với QCVN 65:2021/BTTTT: tại điều 2.1.2 của QCVN 65:2021/BTTTT không áp dụng công thức (1) của quy chuẩn kỹ thuật.
(7) Đối với QCVN 128:2021/BTTTT: không áp dụng Yêu cầu hiệu năng trạm gốc 5G tại điều 2.4. Khi áp dụng QCVN 128:2021/BTTTT, các thiết bị hỗ trợ băng tần n77, n78 phải áp dụng các yêu cầu tại Phụ lục D của QCVN 128:2021/BTTTT, ngoại trừ yêu cầu giới hạn phát xạ giả tại mục D.4 của QCVN 128:2021/BTTTT.
(8) Đối với QCVN 131:2022/BTTTT: không áp dụng các yêu cầu Độ nhạy bức xạ tổng máy thu (TRS) tại điều 2.2.12 và Công suất bức xạ tổng (TRP) tại điều 2.2.13 của quy chuẩn kỹ thuật.
(9) Không được sử dụng kết quả đo kiểm/thử nghiệm của phòng thử nghiệm trong nước, ngoài nước chưa được chỉ định, thừa nhận, hoặc kết quả đo kiểm/thử nghiệm của nhà sản xuất để đánh giá sự phù hợp đối với quy chuẩn kỹ thuật này.
(10) Đối với QCVN 132:2022/BTTTT: trường hợp sản phẩm, hàng hóa sử dụng bộ chuyển đổi điện áp (adapter), nếu bộ chuyển đổi điện áp đi kèm thì thử nghiệm QCVN 132:2022/BTTT cho sản phẩm, hàng hóa đi kèm bộ chuyển đổi điện áp; nếu bộ chuyển đổi điện áp không đi kèm thì thử nghiệm QCVN 132:2022/BTTTT cho sản phẩm, hàng hóa không kèm bộ chuyển đổi điện áp.
(11) Đối với QCVN 133:2024/BTTTT: không áp dụng các yêu cầu Công suất phát xạ bức xạ (EIRP) tại điều 2.2.2.7 và Độ nhạy thu OTA (EIS) tại điều 2.2.2.13 của quy chuẩn kỹ thuật.
(12) Đối với QCVN 18:2022/BTTTT: Có thể sử dụng kết quả thử nghiệm của tổ chức thử nghiệm nước ngoài đối với sản phẩm có kích thước/ khối lượng lớn (300kg trở lên) và sử dụng nguồn điện 3 pha. Tổ chức thử nghiệm nước ngoài có kết quả thử nghiệm được sử dụng phải được các tổ chức công nhận là thành viên của APAC hoặc ILAC công nhận phù hợp với yêu cầu của tiêu chuẩn ISO/IEC 17025. Phạm vi được công nhận của tổ chức thử nghiệm nước ngoài phải bao gồm các tiêu chuẩn và sản phẩm nêu trong kết quả thử nghiệm được sử dụng.
(13) Phương thức đánh giá sự phù hợp:
- Phương thức 3: Chứng nhận thông qua thử nghiệm mẫu đại diện cho kiểu, loại sản phẩm, hàng hóa và đánh giá quá trình sản xuất. Giám sát thông qua thử nghiệm mẫu và đánh giá quá trình sản xuất. Mẫu thử nghiệm trong giám sát lấy tại nơi sản xuất.
Trong trường hợp sản phẩm, hàng hóa được sản xuất trong dây chuyền đã có chứng chỉ chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng phù hợp tiêu chuẩn tương ứng (ISO 9001, HACCP, GMP, các tiêu chuẩn hệ thống quản lý chất lượng khác) cho phạm vi chứng nhận liên quan đến đối tượng sản phẩm, hàng hóa và còn hiệu lực tối thiểu 06 tháng. Tổ chức chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng phải được công nhận bởi tổ chức công nhận là thành viên ký thỏa thuận/thỏa ước thừa nhận lẫn nhau (MRA/MLA) của các tổ chức hợp tác công nhận quốc tế hoặc khu vực (Tổ chức công nhận toàn cầu - Global Accreditation Cooperation Incorporated, là Tổ chức được hợp nhất của Tổ chức công nhận phòng thử nghiệm quốc tế - ILAC và Diễn đàn công nhận quốc tế - IAF; Tổ chức hợp tác công nhận khu vực Châu Á Thái Bình Dương - APAC) hoặc tổ chức công nhận được thừa nhận theo các Thỏa thuận Thừa nhận lẫn nhau (MRA/MLA) mà Việt Nam tham gia thì không cần phải đánh giá quá trình sản xuất và đánh giá giám sát, lấy mẫu giám sát.
- Phương thức 7: Chứng nhận thông qua thử nghiệm, đánh giá lô sản phẩm, hàng hóa.
Mẫu sản phẩm, hàng hoá thử nghiệm là mẫu được lấy ngẫu nhiên, đảm bảo tính đại diện cho lô sản phẩm, hàng hóa
Phụ lục II
DANH MỤC SẢN PHẨM, HÀNG HÓA CÓ MỨC ĐỘ RỦI RO TRUNG BÌNH
THUỘC TRÁCH NHIỆM QUẢN LÝ CỦA BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
(Ban hành kèm theo Thông tư số /2026/TT-BKHCN ngày tháng năm 2026 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ)
Ghi chú:
- Sản phẩm, hàng hóa có chức năng phát xạ vô tuyến điện phải tuân thủ các quy hoạch và phân bổ tần số vô tuyến điện của Việt Nam, các điều kiện kỹ thuật và khai thác tương ứng, cũng như các quy định pháp luật hiện hành về tần số vô tuyến điện.
- Các tổ chức, doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu, phân phối, sử dụng sản phẩm, hàng hóa phải cam kết thực hiện đúng quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tần số vô tuyến điện.
- Việc thực hiện công bố hợp quy sản phẩm, hàng hóa nêu tại Phụ lục II đối với một số trường hợp cụ thể quy định như sau:
(1) Loại sản phẩm, hàng hóa này không áp dụng đối với thiết bị thông tin phòng nổ.
(3) Thiết bị vô tuyến điện cự ly ngắn tại mục này không bao gồm thiết bị chỉ thu vô tuyến; thiết bị truyền dữ liệu băng rộng hoạt động trong băng tần 2,4 GHz có công suất bức xạ đẳng hướng tương đương (EIRP) nhỏ hơn 60 mW; thiết bị truy nhập vô tuyến băng tần 5 GHz có công suất bức xạ đẳng hướng tương đương (EIRP) nhỏ hơn 60 mW; thiết bị Bluetooth và Zigbee có công suất bức xạ đẳng hướng tương đương (EIRP) nhỏ hơn 60mW.
(4) Đối với QCVN 117:2023/BTTTT: không áp dụng các yêu cầu Độ nhạy bức xạ tổng cộng của máy thu (TRS) tại điều 2.2.12, mục B.2.2.18 và Công suất bức xạ tổng cộng (TRP) tại điều 2.2.13, mục B.2.2.19 của quy chuẩn kỹ thuật; không áp dụng các yêu cầu kỹ thuật đối với công nghệ GSM (2G và 2,5G).
(5) Đối với QCVN 101:2020/BTTTT: chỉ bắt buộc công bố hợp quy yêu cầu về đặc tính an toàn quy định tại điều 2.6 của quy chuẩn kỹ thuật này.
(9) Không được sử dụng kết quả đo kiểm/thử nghiệm của phòng thử nghiệm trong nước, ngoài nước chưa được chỉ định, thừa nhận, hoặc kết quả đo kiểm/thử nghiệm của nhà sản xuất để đánh giá sự phù hợp đối với quy chuẩn kỹ thuật này.
(10) Đối với QCVN 132:2022/BTTTT: trường hợp sản phẩm, hàng hóa sử dụng bộ chuyển đổi điện áp (adapter), nếu bộ chuyển đổi điện áp đi kèm thì thử nghiệm QCVN 132:2022/BTTT cho sản phẩm, hàng hóa đi kèm bộ chuyển đổi điện áp; nếu bộ chuyển đổi điện áp không đi kèm thì thử nghiệm QCVN 132:2022/BTTTT cho sản phẩm, hàng hóa không kèm bộ chuyển đổi điện áp.
(12) Đối với QCVN 18:2022/BTTTT: có thể sử dụng kết quả thử nghiệm của tổ chức thử nghiệm nước ngoài đối với sản phẩm có kích thước/ khối lượng lớn (300kg trở lên) và sử dụng nguồn điện 3 pha. Tổ chức thử nghiệm nước ngoài có kết quả thử nghiệm được sử dụng phải được các tổ chức công nhận là thành viên của APAC hoặc ILAC công nhận phù hợp với yêu cầu của tiêu chuẩn ISO/IEC 17025. Phạm vi được công nhận của tổ chức thử nghiệm nước ngoài phải bao gồm các tiêu chuẩn và sản phẩm nêu trong kết quả thử nghiệm được sử dụng.
(13) Đối với QCVN 53:2017/BTTTT: chưa áp dụng các yêu cầu đối với ăng ten tại điều 2.3 của quy chuẩn kỹ thuật.
(14) Phương thức đánh giá sự phù hợp:
- Phương thức 3: Chứng nhận thông qua thử nghiệm mẫu đại diện cho kiểu, loại sản phẩm, hàng hóa và đánh giá quá trình sản xuất. Giám sát thông qua thử nghiệm mẫu và đánh giá quá trình sản xuất. Mẫu thử nghiệm trong giám sát lấy tại nơi sản xuất.
Trong trường hợp sản phẩm, hàng hóa được sản xuất trong dây chuyền đã có chứng chỉ chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng phù hợp tiêu chuẩn tương ứng (ISO 9001, HACCP, GMP, các tiêu chuẩn hệ thống quản lý chất lượng khác) cho phạm vi chứng nhận liên quan đến đối tượng sản phẩm, hàng hóa và còn hiệu lực tối thiểu 06 tháng. Tổ chức chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng phải được công nhận bởi tổ chức công nhận là thành viên ký thỏa thuận/thỏa ước thừa nhận lẫn nhau (MRA/MLA) của các tổ chức hợp tác công nhận quốc tế hoặc khu vực (Tổ chức công nhận toàn cầu - Global Accreditation Cooperation Incorporated, là Tổ chức được hợp nhất của Tổ chức công nhận phòng thử nghiệm quốc tế - ILAC và Diễn đàn công nhận quốc tế - IAF; Tổ chức hợp tác công nhận khu vực Châu Á Thái Bình Dương - APAC) hoặc tổ chức công nhận được thừa nhận theo các Thỏa thuận Thừa nhận lẫn nhau (MRA/MLA) mà Việt Nam tham gia thì không cần phải đánh giá quá trình sản xuất và đánh giá giám sát, lấy mẫu giám sát.
- Phương thức 7: Chứng nhận thông qua thử nghiệm, đánh giá lô sản phẩm, hàng hóa.
Mẫu sản phẩm, hàng hoá thử nghiệm là mẫu được lấy ngẫu nhiên, đảm bảo tính đại diện cho lô sản phẩm, hàng hóa.





